Cục máu đông và nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu

Đông máu giúp cầm máu khi bị thương, nhưng huyết khối hình thành trong tĩnh mạch sâu có thể gây DVT và đôi khi di chuyển lên phổi gây thuyên tắc phổi. Nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo có thể giúp người bệnh được xử trí kịp thời.

Đông máu là cơ chế bình thường giúp cơ thể cầm máu khi mạch máu bị tổn thương. Tuy nhiên, huyết khối hình thành bên trong mạch máu không đúng lúc có thể cản trở dòng máu và gây biến chứng nguy hiểm.

Cục máu đông hình thành như thế nào?

Khi mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu bám vào vùng tổn thương và hệ thống đông máu tạo fibrin để hình thành nút cầm máu. Sau khi tổn thương lành, cơ thể có cơ chế phân giải cục máu đông. Vấn đề xảy ra khi huyết khối hình thành trong mạch mà không phục vụ cầm máu hoặc không được phân giải đúng cách.

Huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT)

DVT thường xuất hiện ở tĩnh mạch sâu của chân, nhưng cũng có thể xảy ra ở tay. Khoảng một nửa trường hợp DVT có thể không có triệu chứng.

Khi có triệu chứng, các dấu hiệu thường gặp ở bên chi bị ảnh hưởng gồm:

  • Sưng.
  • Đau hoặc ấn đau không giải thích được.
  • Vùng da ấm hơn.
  • Đỏ hoặc đổi màu da.
Minh họa cục máu đông trong hệ tĩnh mạch

Thuyên tắc phổi (PE) là gì?

Biến chứng nghiêm trọng nhất của DVT xảy ra khi một phần huyết khối bong ra, đi theo dòng máu đến phổi và gây tắc động mạch phổi. PE có thể xảy ra ngay cả khi người bệnh không nhận thấy triệu chứng DVT trước đó.

Cần cấp cứu ngay khi có khó thở đột ngột, đau hoặc tức ngực tăng khi hít sâu/ho, tim đập nhanh hoặc không đều, ho ra máu, choáng hoặc ngất.

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ DVT/PE?

  • Phẫu thuật lớn, chấn thương hoặc tổn thương tĩnh mạch.
  • Nằm lâu, bất động hoặc ngồi kéo dài.
  • Ung thư và một số bệnh mạn tính.
  • Tuổi cao hơn.
  • Tiền sử cá nhân hoặc gia đình có huyết khối.
  • Mang thai và thời kỳ sau sinh.
  • Sử dụng một số thuốc/hormone chứa estrogen.
  • Thừa cân, béo phì và các yếu tố nguy cơ khác.

Huyết khối tĩnh mạch nông có giống DVT không?

Không. Huyết khối ở tĩnh mạch nông có thể gây đau, đỏ và cứng dọc theo tĩnh mạch dưới da. Mức độ nguy hiểm thường khác DVT, nhưng vẫn cần đánh giá nếu triệu chứng lan rộng, đau nhiều hoặc người bệnh có nguy cơ huyết khối cao.

Có thể tự chẩn đoán cục máu đông qua triệu chứng không?

Không. Đau chân, sưng chân hoặc khó thở có nhiều nguyên nhân khác nhau. DVT và PE cần được bác sĩ đánh giá bằng các xét nghiệm phù hợp như siêu âm, xét nghiệm máu hoặc chẩn đoán hình ảnh tùy trường hợp.

Cách giảm nguy cơ

Ở người có nguy cơ, nên vận động trở lại sớm khi được phép sau phẫu thuật hoặc nằm viện, tránh bất động kéo dài và tuân thủ thuốc dự phòng nếu bác sĩ kê. Khi phải ngồi lâu, chẳng hạn chuyến đi trên 4 giờ, có thể đứng dậy đi lại định kỳ và vận động chân khi ngồi.

Kết luận

Cục máu đông có thể là một phần bình thường của quá trình cầm máu, nhưng DVT và PE là những tình trạng cần được nhận biết sớm. Sưng đau một chi cần được đánh giá, còn khó thở đột ngột, đau ngực, ho ra máu hoặc ngất là các dấu hiệu cần cấp cứu.

  1. CDC – About Venous Thromboembolism (Blood Clots)
  2. CDC – Risk Factors for Blood Clots
  3. CDC – Testing and Diagnosis for Venous Thromboembolism
Lưu ý: Nội dung này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo, không thay thế chẩn đoán, tư vấn hoặc điều trị của bác sĩ, dược sĩ hay người hành nghề y tế có thẩm quyền.